Những điều cần biết về Nattokinas

Xem hình
 

Trong thời gian gần đây, chúng ta nghe nhắc nhiều đến Nattokinase với nhiều tác dụng khác nhau, đặc biệt có thể mang tới cho chúng ta một sức khỏe tốt hơn, nâng cao chất lượng sống của con người. Vậy nattokinase là gỉ?

 

 

1. Nattokinase là gì?
 
Nattokinase là một enzyme được tìm thấy trong loại đậu lên men Natto- món ăn truyền thống của người Nhật. Nattokinase có tác dụng làm tan cục máu đông vốn là nguy cơ gây tắc mạch máu dẫn đến tai biến, đột quỵ. Nattokinase làm giảm nguy cơ này.
 
2. Nattokinase được tìm thấy như thế nào?
 
Nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu về sự bí ẩn của Natto là tiến sĩ K.Yabe, một chuyên gia về vi sinh học công bố những kết quả tìm tòi của ông về sự lên men của natto vào năm 1894, ghi lại rằng “Natto, một loại pho-mai thực vật” để giới thiệu với các nước phương tây vốn rất quen thuộc với các loại phô-mai từ sữa bò hay sữa dê. Quân đội Nhật Bản trong thời chiến tranh Nhật-Nga (1904-05) đã phải ăn ngày 3 bữa bằng natto với cơm nhờ vậy binh lính gìn giữ được sức khỏe không bị đau bụng, tiêu chảy hay táo bón trên đường hành quân. Vào năm 1905 TS Shin Sawamura (đại học Tokyo) đã thành công trong việc tách 2 loại vi khuẩn Natto từ đậu nành nấu chín, trong đó vi khuẩn gây ra mùi hương đặc biệt làm hạt đậu lên men (Bacillus natto)

Sở dĩ các nhà khoa học NB đã cất công nghiên cứu về thực phẩm độc đáo nầy vì cho rằng đây là một thức ăn giúp con người sống lâu, giữ gìn được sức khỏe trong đó có 4 nhà nghiên cứu ăn hằng ngày natto, đã sống đến 80,4 tuổi vào những năm 1900 là bằng chứng cụ thể. Việc tìm tòi để sản xuất theo lối công nghiệp sản phẩm Natto được nghiên cứu liên tục ở các trường đại học Nhật Bản (như GS Hazawa Jun ở ĐH Hokkaido) ứng dụng các loại enzym có tính năng tương tự với enzym từ rơm rạ để phục vụ quân đội viễn chinh Nhật Bản ở Mãn Châu, Trung Quốc… từ năm 1919. Từ đó, Natto đã trở thành thực phẩm chủ yếu cho quân đội viễn chinh trong thế chiến thứ hai và ngày càng phổ cập đến nhân dân. Qua thống kê chúng ta có thể thấy từ mức tiêu thụ Natto 39.000 tấn năm 1958 tăng vọt lên đến 170.000 tấn/năm 1982 chứng tỏ Natto đã trở thành lương thực dinh dưỡng mà bình quân người Nhật sử dụng 1,42 kg/năm (và hiện nay là khoảng 2 kgs/năm).
Natto đã trở thành một đề tài nóng hổi khi TS Sumi Hiroyuki tung ra những kết quả bất ngờ về hiệu quả của natto trong việc làm tan các huyết khối trong động mạch - một trong những nguyên nhân suy tim và tử vong của bệnh nhân bị các chứng xơ vữa động mạch vành hay đột quị vì nghẽn hay xuất huyết não - vào năm 1980.
Trong bữa cơm trưa tại nhà ăn của đại học Y khoa Chicago, Sumi lấy một mẫu natto - món ăn quen thuộc của ông - đặt vào khay thủy tinh có cục máu đông thì 18 giờ sau cục máu đông nầy tan rã dễ dàng, điều đó gợi ý rằng trong natto có thể có một hay nhiều hoạt chất có thể phẩn hủy huyết khối nhờ thủy phân sợi Fibrin - có khả năng làm đông máu (tụ máu) để ngăn chứng xuất huyết nội. Sumi bắt đầu lưu ý tới vai trò của “nattokinase” và Vitamin K2 có trong natto để chứng minh nó là hoạt chất giúp cho người Nhật Bản sống lâu, làm tăng khả năng tạo ra plasmin nội sinh giúp cho cơ thể tránh được tai biến hay đột quị bởi huyết khối hay các chứng xơ vữa động mạch, suy tim biến chứng gây nên. Theo kết quả nghiên cứu của 3 cơ quan y tế - đại học bang Oklahoma (Mỹ), JCR Pharmaceuticals (NB) và Trường Y khoa Miyazaki – phối hợp thử nghiệm trên cơ thể người (in vivo) bằng cách cho ăn Natto 200 gr/ngày và đã kiểm chứng được những hiệu ứng kể trên, đặc biệt phát hiện lượng Plasmin nội sinh giảm sụt ở người cao tuổi không đủ để làm tan huyết khối, vón cục trong động mạch thì hiệu quả càng rõ rệt. 
Năm 1986, TS Sumi Hiroyuki công bố toàn bộ kết quả nghiên cứu về tác dụng của Nattokinase sau khi thử nghiệm gần 200 loại thực phẩm khác nhau để so sánh, xác định nattokinase là một loại enzym mang khả năng phân hủy huyết khối một cách hữu hiệu và mạnh nhất trong các loại enzym, gấp 4 lần Plasmin - enzym nội sinh làm tan máu đông - đồng thời tuyệt đối an toàn cho cơ thể khi hấp thụ qua đường ăn uống. 

 
3. Lợi ích của Nattokinase
 

               

                                             

 
- Làm tan cục máu đông: Nattokinase làm tan cục máu đông bằng cách làm tan sợi fibrin (chất sợi buộc các tiểu cầu vón kết lại với nhau hình thành cục máu đông). Nattokinase hoạt động mạnh gấp 4 lần plasmin nội sinh (loại enzyme duy nhất trong cơ thể làm nhiệm vụ phá tan sợi fibrin) với cơ chế tương tự như plasmin này. Do sức khỏe và tuổi tác, cơ thể giảm sản sinh plasmin càng làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông. Nattokinase cũng giúp tăng cường plasmin của cơ thể và các thành phần chống đông máu khác như urokinase ( Sumi. H et al. “a novel fibrinolytic enzyme (nattokinase) in the vegetable cheese natto…” experience 1987).
- Huyết áp: Nattokinase làm giảm huyết áp. Người Nhật ăn loại đậu lên men đã hơn 1000 năm vì mục đích này. Các nghiên cứu chỉ ra rằng nó làm giảm huyết áp bằng cách ức chế enzyme chuyển đổi angiotensin (ACE). ACE khiến mạch máu bị hẹp lại và huyết áp tăng cao. Nattokinase có khả năng ức chế ACE, ngăn cản dầy nội mạc mạch. (Maruyama M. & Sumi H. effect on Natto diet on blood pressure, JTTAS 1995).
- Tăng cường lưu thông máu: Nattokinase trợ giúp máu lưu thông bằng cách hỗ trợ bù trừ trong tuần hoàn. Nó cũng được chứng minh là có tác dụng ngăn chặn xơ vữa mạch. (Sumi H. Healthy Mirobe “Bacillius Natto” – Japan Bio Science Laboratory).
- Các lợi ích khác: làm chắc xương, trợ giúp đau khớp, giảm nhức đầu, kháng khuẩn, ngừa bệnh tả, thương hàn, bệnh lị.
Cục máu đông làm tắc mạch máu là nguyên nhân chính dẫn đến sa sút trí nhớ, xuất huyết não, nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực và trĩ. Lợi ích tuyệt vời từ Nattokinase hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích cho những người bệnh này.
 
4. Cơ chế hoạt động của Nattokinase
 
Không giống như aspirin và hầu hết các thuốc chống đông máu khác sẽ ức chế sản xuất fibrin, Nattokinase trực tiếp làm tiêu sợi fibrin nên giải phóng tiểu cầu và giải tỏa những khu vực mà dòng máu lưu thông bị cản trở không cần thiết. Bằng cách kích thích cơ thể tăng cường sản xuất plasmin, Nattokinase không những giúp làm tan cục máu đông đã hình thành mà còn hoạt động như một thành phần chống hình thành cục máu đông (tác dụng kép). Nattokinase cũng ức chế Plasminogen Activator PAL -1 vốn là thành phần hạn chế hoạt động của plasmin trong cơ thể. (“Ngăn chặn đột quỵ và tai biến với enzyme mạnh có khả năng làm tan cục máu đông trong nhiều giờ”- Viện khoa học sức khỏe Health Sciences Institude, March 2002).
 

Cơ chế làm giảm huyết áp của Nattokinase

 

Huyết áp cao là do Angiotensin II gây co mạch và giữ nước, dẫn đến khối lượng máu tăng trong khi mạch máu hẹp làm tăng áp lực trong mạch. Angiotensin II hình thành từ  Angiotensin I bởi Enzyme chuyển đổi Angiotensin ACE (Angiotensin Converting Enzyme).

 

Các nghiên cứu chỉ ra rằng Nattokinase làm giảm huyết áp bằng cách ức chế Enzyme chuyển đổi Angiotensin ACE. Nattokinase làm chậm hoạt động của ACE, làm giảm sản xuất Angiotensin II. Kết quả mạch máu được giãn ra, máu dễ dàng lưu thông và giảm lượng nước cơ thể giữ lại, nên giảm áp suất máu, làm hạ huyết áp (Maruyama M. & Sumi H. Effect on Natto diet on blood pressure, JTTAS 1995).

 

Theo nghiên cứu của Kim JK và các cộng sự, Viện Nghiên cứu Khoa học Đại học Yonsei, Hàn Quốc  -  trên 73 bệnh nhân ( có huyết áp tâm thu từ 130 đến 159 mmHg), sau 8 tuần sử dụng Nattokinase 2.000 FU/ 1 ngày, kết quả huyết áp tâm thu giảm 5,55 mgHg và giảm huyết áp tâm trương giảm 2,84 mmHg.

 

Tên

4. Tác dụng phụ:
 
Người Nhật Bản ăn đậu Natto đã hơn 1000 năm, các sản phẩm chiết xuất natto có mặt trên thị trường gần 20 năm mà chưa hề thấy có báo cáo về tác dụng phụ. Trên thực tế Nattokinase đã chứng tỏ giá trị như một loại thuốc hạn chế đông máu như Wafarin, Heparin mà không gây phản ứng bất lợi nào, kể cả dị ứng.
Nattokinase an toàn cho mọi lứa tuổi và có vẻ như không có giới hạn về lượng có thể được hấp thụ một cách an toàn. Tuy nhiên, do khả năng làm tan cục máu đông mạnh nên những người bị rối loạn chảy máu, như bệnhhaemophiliacs, không nên dùng Nattokinase. Những người có vấn đề chảy máu liên tục, chẳng hạn như viêm loét nặng hoặc mới phẫu thuật cũng cần tạm dừng Nattokinase. Những người đã bị chảy máu nội sọ, hoặc những người phẫu thuật thần kinh hay đột quỵ do thiếu máu cục bộ trong vòng sáu tháng không nên dùng Nattokinase. Những người huyết áp rất cao không kiểm soát được (huyết áp tâm thu lớn hơn 200 mmHg hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn 110 mmHg) khi dùng Nattokinase cần theo dõi y tế nghiêm ngặt. Nattokinase không nên dùng cho người dùng thuốc chống đông máu, như aspirin hoặc warfarin [Coumadin ®]); Cho đến nay không có nghiên cứu cho thấy khả năng lọt qua sữa mẹ của Nattokinase. Bà mẹ mang thai hoặc cho con bú nên tham khảo bác sĩ của họ trước khi sử dụng Nattokinase. Đó là điều cần lưu ý, tuy nhiên phụ nữ mang thai tại Nhật Bản vẫn thường ăn đậu natto để đảm bảo cho trẻ sơ sinh khỏe mạnh.
 
5. Tương tác thuốc
 
Nattokinase chưa loại bỏ vitamin K sẽ hạn chế tác dụng chống đông máu của các loại thuốc kháng đông như Wafarin, Aspirin. Những người đang được điều trị bằng thuốc chống đông máu như Wafarin, Aspirin cần được sự tư vấn của bác sĩ khi muốn sử dụng Nattokinase.
 
6. Liều dùng:
 
Theo các nghiên cứu của giáo sư Sumi, mỗi gram đậu natto thô trung bình chứa 40FU. Các nghiên cứu trên người có liều dùng từ 50g-200g (tương đương với 2000 FU- 8000 FU)
 
7. Nghiên cứu lâm sàng
 
- Hoạt động tiêu huyết khối
Tiến sĩ Hiroyuki Sumi khám phá ra Nattokinase vào năm 1980 trong khi tiến hành nghiên cứu tại Đại học Chicago. Tiến sĩ thử nghiệm với gần 200 loại thực phẩm và phát hiện ra tiềm năng của đậu natto khi cho nó vào cục máu nhân tạo và giữ ở nhiệt độ cơ thể. Ông nhận thấy huyết khối bị tan dần và hoàn toàn biến mất sau 18 tiếng.
TS Sumi kế tiếp thử nghiệm lâm sàng với con người và động vật. Trong nghiên cứu đầu tiên, 12 tình nguyện viên được cho sử dụng 200g Natto hàng ngày. Các hoạt động Fibrinolytic máu của họ được đo theo 2 cách. Lấy mẫu máu và kích thích tạo một cục máu đông trong mẫu sau đó đo thời gian cục máu đông tan hoàn toàn. Nhóm sử dụng Nattokinase mất một nửa thời gian so với nhóm đối chứng.
Bài kiểm tra thứ hai dùng máu cho vào đĩa với một loại polymerized fibrinogen đặc biệt. Mức độ tan được đo 4 tiếng 1 lần. Nhóm đối chứng cho thấy không tan trong khi nhóm Nattokinase có tốc độ tan là 15sp mm.
Một thử nghiệm thứ ba sau đó được thực hiện để đo các mô plasminogen activator (TPA) trong máu. Nhóm dùng Nattokinase cho thấy có sự tăng tPA. tPA làm tăng plasmin, do đó các nghiện chỉ ra rằng ngoài khả năng trực tiếp tiêu sợi Fibrin, nó còn tăng cường hoạt động chống hình thành cục máu đông của cơ thể.
TS Sumi cũng tiến hành một thử nghiệm lâm sàng liên quan đến chó. Một cục máu đông được tạo ra trong tĩnh mạch chân của chó gây tắc nghẽn hoàn toàn. Sau 5h nhóm được cho ăn đậu Natto tĩnh mạch đã hoàn toàn lưu thông. Trong khi đó nhóm dùng giả dược vẫn còn những cục máu đông gây tắc nghẽn 18 giờ sau đó.( Sumi H., Hamada, Tsushima H, H Mihara, Muraki H “a novel fibrinolytic enzyme (nattokinase) in the vegetable cheese natto…”a typical and popular soybean food in the Japanese diet. Experientia 1987, Oct 15;43(10):1110-1.).
 
Năm 1995, nhà nghiên cứu ở phòng thí nghiệm Nghiên cứu Công nghệ sinh học và JCR Pharmaceuticalscủa Kobe, Nhật Bản đã thử nghiệm hiệu quả của Nattokinase trong việc giảm huyết khối động mạch cảnh trên chuột. Một số chuột được tiêm huyết khối ở động mạch cảnh, nguồn cung cấp dinh dưỡng cho não. Ba enzym là Nattokinase, plasmin và elastase được dùng để thử nghiệm trên chuột. Elastase cho thấy không mở lại các động mạch bị chặn. Nhóm ăn Plasmin cho thấy lưu thông phục hồi 16% sau một giờ. Còn nhóm ăn Nattokinase cho thấy phục hồi 62% lưu thông trong cùng khoảng thời gian. Kết quả này giúp nhà nghiên cứu kết luận rằng "các kết quả cho thấy các khả năng tiêu fibrin của Nattokinase là mạnh hơn so với plasmin hoặc elastase trong cơ thể" (Sumi H. Healthy Mirobe “Bacillius Natto” – Japan Bio Science Laboratory)

Các nhà nghiên cứu từ JCR Pharmaceuticals, Oklahoma State University và Miyazaki Medical College tiến hành một nghiên cứu sâu hơn nữa trong đó có 12 tình nguyện viên được cho uống 200 mg Nattokinase và sau đó theo dõi khả năng tiêu fibrin của họ thông qua một loạt các xét nghiệm huyết tương. Các đối tượng tham gia thí nghiệm cho thấy khả năng phân hủy cục máu đông cao trong 2-8 giờ (“Ngăn chặn đột quỵ và tai biến với enzyme mạnh có khả năng làm tan cục máu đông trong nhiều giờ”- Viện khoa học sức khỏe Health Sciences Institude, March 2002)
 
Năm 2003, Long – Flite trong một thí nghiệm mù soát ngẫu nhiên thực hiện bởi Cesarone, et al, Nattokinase và giả dược đã được trao cho các tình nguyện viên trước khi lên một chuyến bay 7-8 giờ. 7 trong số 92 người trong nhóm dùng giả dược cho thấy cục máu đông hình thành. Không ai trong số 94 người trong nhóm Nattokinase hình thành cục máu đông (Cesarone MR et al.: Phòng chống huyết khối tĩnh mạch trong các chuyến bay đường dài với Flite Tabs: Các LONG-Flite ngẫu nhiên, thử nghiệm kiểm soát Angiology 2003; 54: T1-T9). . 

-Hoạt động huyết áp 

Năm 1995, các nhà nghiên cứu từ  Trường y khoa Miyazaki Kurashiki và Đại học Khoa học và Nghệ thuật tại Nhật Bản đã nghiên cứu tác dụng của Nattokinase với huyết áp ở cả động vật và con người. Trong các thử nghiệm chuột được cho uống một liều duy nhất 400-450 gam Nattokinase. Tính trung bình huyết áp tâm thu (SBP) của chuột giảm 12,7% trong hai giờ. 

Nhóm người tình nguyện tham gia có huyết áp cao được uống 30 gam lyophilized trích xuất (tương đương 100 g natto). Trung bình huyết áp tâm thu SBP giảm 10,9% và huyết áp tâm trương (DBP) giảm 9,7% (Maruyama M, Sumi H. Ảnh hưởng của chế độ ăn Natto với huyết áp JTTAS,. 1995.). 

 
8. Nghiên cứu Nattokinase
Thức ăn bổ sung đậu tương lên men natto, ngăn chặn dày nội mạc và điều biến sự ức chế của thrombi sau khi bị thương nội mạc động mạch đùi ở chuột. Suzuki Y, K Kondo, Matsumoto Y, Zhao BQ, Otsuguro K, T Maeda, Y Tsukamoto, Urano T, Umemura K. Khoa học đời sống. 25 tháng 7 năm 2003; 73 (10) :1289-98 Cục Dược, Đại học Hamamatsu School of Medicine, Handayama 1-20-1, Thành phố Hamamatsu, Shizuoka 431-3.192, Nhật Bản. yapplel@hama-med.ac.jp 

Chúng tôi đã từng chứng minh rằng Natto có chứa chiết xuất Nattokinase (NK) bất hoạt chất ức chế hoạt động của plasminogen loại 1 và sau đó tăng cường hoạt tính phân hủy fibrin. Trong nghiên cứu hiện nay, chúng tôi điều tra ảnh hưởng của chế độ ăn bổ sung chiết xuất Natto trong sự hình thành neointima và thrombolysis tại nơi tổn thương nội mạc. Nội mạc tổn thương trong động mạch đùi chuột được gây ra bởi tiêm tĩnh mạch Bengal sau đó chiếu xạ tiêu cự bằng ánh sáng màu xanh lá cây transluminal. Chuột được cho ăn Natto chứa NK 50 hoặc 100 CU / cơ thể 3 tuần trước khi gây chấn thương nội mạc và sau đó tiếp tục cho ăn 3 tuần nữa. Intimal dày ở chuột được bổ sung đáng kể (P <0,01) so với nhóm so sánh và tỉ lệ intimal/media ở chuột với 50 và 100 CU / body NK và nhóm đối chiếu tương ứng là 0,09 + / - 0,03, 0,09 + / - 0,06 và 0,16 + / - 0,12. Mặc dù các động mạch đùi đã được thông trở lại cả ở nhóm đối chiếu và nhóm điều trị với NK trong vòng 8 giờ sau khi chấn thương nội mạc, Quan sát tại vùng tổn thương nội mạc. Ở nhóm đối chiếu trung tâm lòng mạch đã được thông trở lại và các mảng huyết khối gắn trên bề mặt của thành mạch. Ngược lại, ỏ nhóm  điều trị NK, cục máu đông gần thành mạch cho thấy bị kiểm soát và hầu hết bị tách ra khỏi bề mặt của thành mạch. Kết luận, chế độ ăn uống bổ sung chất chiết xuất Natto ngăn cản dầy thành nội mạc do chấn thương nội mạc động mạch đùi ở chuột. Các hiệu ứng này một phần có thể được quy cho NK, cho thấy khả năng tăng cường tiêu huyết khối gần thành mạch
Share :