Dùng thuốc trong thoái hóa hoàng điểm

Thoái hóa hoàng điểm (THHĐ) gây mất thị lực trung tâm làm cho người bệnh không nhận biết được màu, độ nét, độ rõ của hình ảnh, nặng hơn có thể gây mất thị lực hoàn toàn. Có thể dùng thuốc phòng và ổn định bệnh song người bệnh cần khám phát hiện bệnh sớm, khám định kỳ để xác định thời điểm dùng các liệu pháp thích hợp khác.

Hoàng điểm (điểm vàng) nằm ở vùng trung tâm võng mạc. Khi bị thoái hóa hoàng điểm, người bệnh có biểu hiện: có ám điểm ở vùng trung tâm (có thể thấy điểm mờ ở vùng trung tâm rồi rộng ra và tối hơn), hình ảnh nhìn thấy thường méo mó (không như vật thật); khó khăn trong nhìn gần, đọc; tăng nhạy cảm với ánh sáng. Có tới 82% người bệnh bỏ qua các biểu hiện đầu tiên, không biết mình có bệnh.
 
 
 
Đến giai đoạn sau mới thấy mờ như có “ruồi bay trước mắt” thì đã muộn. Nếu bị một mắt thì khoảng 50% sẽ bị mắt thứ hai trong 3-5 năm sau. Khi tình cờ phát hiện được thì phần lớn đã bị cả hai mắt. Có khoảng 2% người bệnh ở tuổi trên 50 trở lên diễn biến bệnh nặng dẫn đến mù. Thoái hóa hoàng điểm có dạng khô gọi là cườm khô (chiếm khoảng 90%) và dạng ướt gọi là cườm ướt (chỉ khoảng 10%) nhưng lại là nguyên nhân của 90% tình trạng mất thị lực nặng.
 
Nguyên nhân gây thoái hóa hoàng điểm chủ yếu do tuổi già. Ngoài ra, còn có thể do tăng huyết áp, tiểu đường, bệnh tim mạch, hút thuốc lá, dinh dưỡng kém (ăn không đủ zeaxanthin, lutein). Các thuốc sau được dùng trong điều trị thoái hóa hoàng điểm:

Zeaxanthin, lutein

Bình thường, võng mạc vốn có chất zeaxanthin, lutein nội sinh. Zeaxanthin chiếm ưu thế tại trung tâm hoàng điểm còn lutein chiếm ưu thế ở võng mạc ngoại vi. Chúng tác dụng như bộ lọc ánh sáng bước sóng ngắn, ngăn chặn hoặc làm hóa giải gốc tự do trong  biểu mô sắc tố võng mạc và màng mạch. Nhờ thế mà làm trì hoãn sự xuất  hiện và tiến triển của bệnh. Vào tuổi già thì zeaxanthin, lutein bị giảm sút nên bị thoái hóa hoàng điểm.

Dùng thuốc là đưa chất zeaxanthin, lutein chiết xuất từ tự nhiên vào làm nhiệm vụ thay cho chất nội sinh bị thiếu hụt. Cơ chế của thuốc là chống gốc tự do làm cho thoái hóa hoàng điểm chậm xuất hiện (phòng bệnh) hoặc  nếu đã xảy ra thì chậm tiến triển (ổn định bệnh). Có rất nhiều chất chống gốc tự do nhưng chỉ zeaxanthin, lutein mới là chất đặc hiệu dùng trong bệnh này. Theo nghiên cứu ở  Mỹ,  dùng hai chất này và kẽm làm giảm tới 25% sự  tiến triển và giảm tới 19% sự mất thị lực. Các sản phẩm thuốc có trên thị trường thường có chứa lutein, zeaxanthin, zinc. Ngoài ra còn bổ sung thêm các chất chống oxy hóa khác là vitamin C, vitmin  E; selenium. Thoái hóa hoàng điểm thường tiến triển trong một thời gian dài 10-20 năm nên việc dùng các thuốc này là rất cần thiết, có lợi, nhất là trong phòng bệnh.

Hạn chế của thuốc là không đảo ngược được quá trình, không chữa khỏi khi đã mắc bệnh, thuốc có tác dụng phòng và ổn định bệnh. Trong dạng cườm ướt, ở thời điểm thích hợp, thầy thuốc cho điều trị bằng phương pháp quang đông hay phẫu thuật dịch kính. Quang đông là dùng tia laser Argon phá hủy các vùng thiếu máu võng mạc, làm giảm sự tăng tân mạch hay thoái triển các mạch máu này, làm tăng tính thấm, giảm phù nề. Phẫu thuật dịch kính cho phép hút máu trong dịch kính, phẫu tích những tân mạch mới hình thành, gây đông những điểm mạch máu nuôi tân mạch.  Nếu chủ quan chỉ uống thuốc mà không khám xác định đúng dạng và thời điểm thích hợp để điều trị bằng các liệu pháp này thì bệnh sẽ tiến triển nặng hơn. Dùng các liệu pháp này đúng thời điểm sẽ có hiệu quả cao. 

Lucentis, avastin 

Đây là thuốc sinh học thế hệ mới. Trong thoái hóa hoàng điểm có sự hình thành tân mạch do yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF). Lucentis, avastin không cho VEGF bám vào các thụ thể nằm ở mặt ngoài các tế bào bao phủ các tân mạch nên ức chế sự sinh tân mạch và làm cho các mạch máu đã có từ trước hoạt động bình thường. Cơ chế tác dụng trên bệnh thoái hóa hoàng điểm giống như cơ chế điều trị ung thư (NEJM 5/2011). Khi dùng lucentis có 40% người bệnh cải thiện thị lực rất rõ trong khi các liệu pháp cũ chỉ đạt 6%. Lucentis được phép dùng từ năm 2007 (tiêm vào mắt) còn avastin tuy có các nghiên cứu xác nhận giống lucentis nhưng chưa được cấp phép dùng.

Hạn chế của thuốc: hiện chưa có các tài liệu đầy đủ về tác dụng phụ của dạng thuốc nhỏ mắt. Tuy nhiên, trong dạng dùng cho ung thư đã ghi nhận chúng có một số tác dụng phụ khá nghiêm trọng: gây táo bón, đau bụng, nôn, chảy máu đường tiêu hóa; gây cục máu đông, đau ngực, đột quỵ; tăng protein niệu, có thể dẫn đến hội chứng thận hư (1%); gây tăng huyết áp; gây các rối loạn thần kinh và tầm nhìn (đau đầu, động kinh, chậm chạp, lú lẫn, tăng nhãn áp, rối loạn thị lực làm cho mắt tệ hại hơn, mù mắt). Đây là điều đáng tham khảo.

Các nước tiên tiến dùng thuốc sinh học thế hệ mới vài chục năm nay. Nước ta nhập rất ít, mới dùng hạn chế ở tuyến trung ương. Không nên nghe nói tốt mà mua từ nước ngoài về tự điều trị hay nhờ tuyến dưới điều trị.

Người cao tuổi nên ăn các loại thức ăn chứa nhiều zeaxanthin, lutein có trong lòng đỏ  trứng, cải xoăn, củ cải xanh, rau bina, đậu Hà Lan, xà lách, bông cải xanh, ngô màu vàng, quả kiwi; cũng cần dùng thuốc phòng hay làm chậm tiến triển bệnh, song cần khám định kỳ xác định dạng và thời điểm cần phẫu thuật chứ không thể chủ quan dùng thuốc mãi.

Share :